Sau đêm trăng - Truyện ngắn Phan Thành Đạt

VCPTĐ - Khi uống trà, Nhân thường nghĩ mông lung về mấy chuyện nhân sinh. Nhìn đám trẻ đang lụp chụp phía cổng rào với đám dế kêu ri ri, anh thoáng nghĩ về mình lúc nhỏ. Dường như đứa trẻ nào cũng mong muốn được thành người lớn. Và hơn tám mươi phần trăm là con số một nhà thông thái nào đó từng đưa ra để nói về tỉ lệ người lớn muốn được quay về làm trẻ con. Chợt cái nóng của ly trà vừa rót làm Nhân giật mình mà giật nảy mình lên. 


Tác giả Phan Thành Đạt

SAU ĐÊM TRĂNG


Chiếc lồng đèn cuối cùng được Nhân khéo léo gỡ xuống bằng cây sào tre. Rồi cũng được gọn gàng ở một góc thùng cát-tông. Những mơ màng vấn vít những lạch cạch khi Thu bấm máy tính tiền hàng hôm nay. Hai cái lồng đèn. Vậy là kết thúc một mùa Trung Thu ảm đạm và xót xa. Nhớ mùa trăng cách đây mươi năm, trẻ con khắp xóm lũ lượt đốt đèn đi chơi. Quãng từ đầu đến cuối hẻm Cây Me một sợi chỉ sáng. Trẻ con cứ thế khúc khích cười và ào ạt nói. Sự nói cười vô tư và hồn nhiên, như thể chúng chẳng từng nghĩ rằng sẽ có một ngày, mấy chiếc lồng đèn trên tay chúng đàn cầm sẽ chìm sâu vào dĩ vãng. Nhưng đó là chuyện của trăm năm sau, Nhân đinh ninh là như thế và chắc chắn sẽ là như thế. Nhân đã bỏ mấy cử cơm chỉ để cãi nhau với vợ rằng, trẻ con lúc nào cũng mê lồng đèn, Tết Trung Thu chính là thời điểm thuận lợi nhất để khởi nghiệp.

Nhân ngồi bên cái bàn tre được chính tay anh cưa từng khúc, đóng từng cây đinh và sơn từng đường PU mà nhấm nháp ấm trà. Cái đắng chát bao giờ cũng khiến cõi lòng người ta chùng lại. Chùng một nhịp bước rồi ung dũng sải gót trên đường. Thênh thang và phóng khoáng. Khi uống trà, Nhân thường nghĩ mông lung về mấy chuyện nhân sinh. Nhìn đám trẻ đang lụp chụp phía cổng rào với đám dế kêu ri ri, anh thoáng nghĩ về mình lúc nhỏ. Dường như đứa trẻ nào cũng mong muốn được thành người lớn. Và hơn tám mươi phần trăm là con số một nhà thông thái nào đó từng đưa ra để nói về tỉ lệ người lớn muốn được quay về làm trẻ con. Chợt cái nóng của ly trà vừa rót làm Nhân giật mình mà giật nảy mình lên. Trong hàng ba, gương mặt của Thu vẫn không hề biến sắc. Mắt Thu thẳm sâu quá đỗi. Tại nơi con ngươi đen lay láy ấy, có điểm nhấn ở hàng lông mi được chuốt mascara và phấn hồng nhạt. Nơi bờ môi có chút đỏ của son, hoặc là của đương thì con gái. Thu có gương mặt bình thản đến lạ, gò trán của Thu không cao, nhưng căng sáng. Có lẽ từ trước đến nay cô chưa từng phiền lòng hay khó chịu bất cứ điều gì. Và chuyện khởi nghiệp thất bại của Nhân cũng khiến cô khó mà bộc lộ biểu cảm qua gò trán phẳng lì ấy.

Nhân bước vào nhà lấy ba lô rồi xỏ chân vào đôi giày. Thu ngước lên nhìn Nhân không một tiếng động. Chẳng hỏi, chẳng rằng. Chỉ nhìn. Lạ lùng và xa cách. Nơi anh đến vào sáng mai có thể sẽ không còn nồng mùi gió biển nữa, hay chẳng còn thơm mùi bông sao nhái Thu trồng dưới giàn mướp hương. Biển người lạ lẫm. Cuộc người cũng đầy rẩy chông gai.

Nhân nấn ná ngó nghiêng về phía song hành. Những ý nghĩ về mươi năm trước mồn một hiện về trước mắt. Nhân thấy Nhân. Chân thật hơn là thấy một thằng con trai vừa hai mốt. Tay bưng chén cơm rượt theo đứa nhỏ. Đứa nhỏ độ hai tuổi, mắt long lanh, tóc màu nâu ấm và có môi cười rất lạ. Đứa trẻ nhìn về phía Nhân đang đứng nở một nụ cười khanh khách. Cái điệu bộ lạ lùng y hệt những gì Nhân nghĩ. Nhân còn đang tưởng mình có năng lực biết trước tương lai, khi từng cử chỉ của đứa nhỏ Nhân đều đã đoán ra trước đó. Phải chăng là một sự trùng hợp. Sự trùng hợp đến lạ lùng. Chưa rời mắt khỏi đứa nhỏ, tiếng rổn rảng của mớ chén dĩa rớt, rồi tiếng khóc, tiếng người lớn và lại tiếng chan chát của đòn roi. Nhân mường tượng được khung cảnh khi đó, từng nhát roi buông xuống là mỗi lần Nhân nhón gót, gót chân nẻ hết đường vân, mấy bận được Thu bôi mỡ trăn, nhưng chung cuộc đâu lại vào đó. Ý nghĩ đó làm Nhân quên mất việc mình sắp phải đi. Nhân không ý thức được anh đã chần chừ phía đó bao lâu. Chỉ thấy nắng từ nóc nhà đã rọi thẳng vào mặt Nhân. Đã tới giờ lùa bầy gà vào chuồng. Không gian như cô đặc, bầy gà lúc này hay Nhân lúc này đều ngưng đọng trước thời gian. Dường như anh sợ chỉ một lần buông tay là mọi thứ sụp đổ ngay trước mặt. Chỉ khi tiếng chó ngoài đầu hẻm inh ỏi, Nhân mới bừng tỉnh, lủi hủi kéo vali đặt gọn ghẽ ở hầm xe khách. Chuyến Mỹ Tho bốn giờ rưỡi chiều. 

Nhân nhẩm lầm bầm, từ đây ra bến xe cũng ngót nghét mươi phút, xe khởi hành cũng phải mươi phút, và đến Sài Gòn cũng phải ba, bốn tiếng. Nhân đếm từng giờ từng phút như sợ, lỡ mà mình có quên đếm phút nào thì thời gian sẽ không giữ được phút đó. Anh sợ, nỗi sợ mỗi tiếng đồng hồ chỉ còn năm mươi chín phút. Vừa đếm vừa ngó ra cửa sổ. Hàng cau xanh dần khuất sau lưng mắt, chỉ lúa và lúa. Lúa bạt ngàn và mênh mông. Anh đang đắm chìm trước ngào ngạt sắc hương, lòng bồn chồn khi biết năm nay lúa mất mùa qua lời lẩm nhẩm của một cặp chồng vợ ăn mặc khá quê mùa. “Chắc từ huyện lên”, Nhân nghĩ vậy. Cái suy nghĩ đóng đinh trong đầu Nhân từ lúc đó cho đến khi xe cập bến. Anh cũng đã quên mất việc phải đếm giờ và đếm phút. Rõ là anh không đếm, nhưng thời gian có trôi mất đâu. Lạ thật!

Bến xe thưa người. Nhân theo sau hai vợ chồng bước xuống bến đợi xe trung chuyển. Bộ đồ anh đang mặc hôm nay chưa hẵn là bộ đồ đẹp nhất. Anh nghĩ vậy khi vô tình lướt mắt qua cặp vợ chồng ngồi bên cạnh với bộ dạng khép nép và đôi mắt lạc lõng. “Chắc là mình không cô đơn đâu”, Nhân cố trấn an bởi ý nghĩ vừa nhón gót, rằng anh đã đi được vào cõi lạc lõng của đôi vợ chồng kia, hoặc giả xác thân anh cũng đang đắm chìm giữa cõi người tấp nập. Rõ là anh có lạc lõng tí nào đâu, chỉ là người lạ, và người lạ thì chỉ chưa quen nhau thôi chứ đâu có ghét nhau.

Những ồn ào và tấp nập thị tứ cứ dâng dâng lên và dần đầy trong trí não Nhân. Cái khắc khoải cứ từng chút từng chút nhen nhóm. “Nỗi nhớ nhà hay là nỗi nhớ vợ?”, Nhân chưa phân định được. Nhưng chắc nỗi nhớ nào thì cũng ăm ắp trong lòng, chưa nguôi ngoai và chưa rạn vỡ. Từng dòng người chen nhau trên phố, từng luồng xe vun vút qua mặt NHân, từng nụ cười chếnh choáng và buông lơi, hay từng đôi mắt lướt qua nhau không thèm dừng lại một khắc. Thứ vội vàng ở nơi thành đô làm con người ta lạc lõng thấy ớn. Những tưởng một phút giây nào không kịp nhìn nhau là rời xa nhau mãi mãi. Giống như hai vợ chồng già đang ngồi lặng yên bên kia hàng ghế đợi xe. Nhân không biết họ sẽ đi về đâu, nhưng chắc là họ cũng đã có nơi để về. Còn Nhân. Nơi để về lại là nơi anh bước đi, không hẵn là biệt xứ, nhưng cái lạnh, cái buồn và cái cô đơn nơi chật cứng người này đủ làm cho Nhân cảm thấy mình quá trời đơn điệu. “Còn nơi nào cho mình?”, Nhân thoáng nghĩ khi không biết sẽ đi đâu về đâu. Sài Gòn, đèn lồng đâu còn rước dưới ánh trăng. Trẻ con thời nhau cuộn mình dưới màn hình điện thoại, thu mình vào cuộc chơi vô nghĩa và còn lắm lắm sự giải trí hấp dẫn hơn đang chờ. Vậy Nhân đến đây để tìm và chờ gì…

Hẻm Cây Me giờ này chắc cũng đã chìm vào yên bình, Nhân nghĩ vậy khi vô thức lôi chiếc điện thoại ra xem. Ánh sáng lóe lên, ba nụ cười chung một ánh nhìn thẳng tắp. Trong màn ảnh là một gia đình với những nụ cười thắm thiết và những lấp lánh trong đôi mắt đứa trẻ kia cũng nói lên tất cả. Đứa trẻ đeo một chiếc đồng hồ Ben 10, một nhân vật trong tựa phim hoạt hình mà Nhân từng mê mẫn thuở nhỏ. Chiếc đồng hồ kia là món quà mà cha của Nhân dành tặng anh khi anh lên lớp sáu. Đến nay, đã nằm trên tay đứa trẻ ấy. Nhân lại lần nữa nhìn về phía ánh đèn, giờ này, chắc đứa trẻ đã ngủ vùi trong lòng mẹ, có khi còn chảy dãi ướt cả gò má.

“Thằng nhỏ xổ sữa dữ thần hén bây!”, Nhân giật mình nhìn quanh quất, hai ông bà cụ từ bao giờ đã ngồi sát bên Nhân mà anh chẳng hề hay biết. Có chút ngại ngùng nhưng cũng đầy tự hào, khẽ gãy đầu và cười. “Dạ, con trai con hồi nhỏ, nay học lớp bảy rồi thím”, Nhân tự vấn mình nói vừa đủ và đúng, rằng chưa buông chữ nào thừa thải để làm hai vợ chồng kia ngại ngùng. Nhân dè chừng trước những lời nói, cứ sợ rằng sẽ làm người đối diện khó chịu. Nhưng khi nói chuyện với vợ, anh chưa từng để tâm mấy chuyện nhỏ nhắt này. Sự thân thuộc đôi khi chính là liều thuốc mê khiến con người ta vô tâm với những hạnh phúc. Anh đã từng thỏa lòng với chút bình yên ít ỏi, để mặc bản thân trượt dài trong sự ngạo nghễ ấy. Phải đợi đến lúc đôi ngã chia ly, hay cay đắng hơn là âm dương cách biệt, anh mới xót xa nhận ra mình đã để lại quá nhiều vết xước trên trái tim người mình từng thương nhất.

Chuyến xe trung chuyển cuối cùng cập bến lúc 23 giờ 18 phút. Nhân thở một hơi rồi xách ba lô lũ khũ lên xe. Cánh cửa vẫn mở đợi đôi vợ chồng già vấn vít nhau lên xe. Chuyến này chỉ còn ba khách, đôi vợ chồng kia sẽ cặp bến ở một vùng ngoại ô cách đây mươi cây số. Gió ngoài kia vẫn mơn man từng chút. Nhân lấy tay vẽ lên kính một bức tranh, những đứa trẻ nắm tay nhau rước đèn trên đường làng. Đó là giấc mơ, mà cũng là khát khao cháy bỏng của anh. Đâu phải anh muốn vậy để bán được thêm nhiều lòng đèn. Con người ta ai cũng có lúc mang trong mình một khao khát sâu kín, dẫu biết có phần ích kỷ. Nhưng kỳ lạ thay, cái ích kỷ ấy lại bắt nguồn từ sự tự vấn của tâm can, để rồi hóa thành lời cầu nguyện vuông tròn cho một người khác.

Bây giờ là 23 giờ 45 phút, xe đã chạy hơn hai mươi lăm phút. Xe cũng lần hồi chậm bánh rồi khẽ dừng trước một căn nhà ngói cũ. Những đứa trẻ ùa ra nháo nhào đón đôi vợ chồng già kia xuống xe. “Ngoại có mua bánh cho con hông, ngoại?”; “Con nhớ ngoại quá trời luôn!”; “Chị hai hồi sáng ăn cơm mà không rửa tay đó ngoại, ngoại rầy chị hai đi ngoại”… những câu nói, câu thưa cứ tan vào tĩnh mịch, xe lăn bánh. Bánh xe dần xoay vào dòng người tấp nập. “Anh về đâu”, bác tài hỏi khi thấy Nhân trầm ngâm nhìn về phía dòng sông sau cuộc điện thoại. Như một nỗi nhớ đã nén chặt, “cho tôi trở lại bến xe”…

 

PHAN THÀNH ĐẠT

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn